Điệp viên hoàn hảo Kỳ 3: Tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn - Điệp viên học nghề

28/08/2018 10:09
Điệp viên hoàn hảo Kỳ 3: Tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn - Điệp viên học nghề

“Đất nước giao cho tôi sứ mệnh mới. Không có gì phải thắc mắc cả. Đấy chính là lời giải thích cho công việc mới của tôi.” Hà Nội cử hai điệp viên vào Sài Gòn để huấn luyện Ẩn những điều cơ bản của công việc tình báo, nhưng chính công việc mới thực sự giúp Ẩn hoàn thiện kỹ năng.

Tình bạn đặc biệt giữa Phạm Xuân Ẩn và Gia đình Mỹ đầu tiên

Gửi Phạm Xuân Ẩn

Trường Orange Coast

Coast Mesa, California

Phạm Xuân Ẩn mỉm cười khi đọc địa chỉ người gửi: Mills C. Brandes, 2329 South Joyce Street, Arlington, Va.

Đó là tháng 4 năm 1958. Ẩn sắp kết thúc năm đầu tại Trường Orange Coast. Rất nhiều điều tuyệt vời đã xảy ra kể từ buổi tối 16 tháng 8 năm 1957, khi Ẩn và gia đình Brandes chia tay nhau tại sân bay Tân Sơn Nhứt ở Sài Gòn. Mills Brandes vừa hoàn tất một sứ mệnh bí mật kéo dài hai năm tại Sài Gòn và lúc bấy giờ đang cùng gia đình đi nghỉ mát trước khi trở về Arlington để Mills có thể bắt đầu công việc mới tại Washington, D.C.

Mối quan tâm chủ yếu của Mills trong khoảng thời gian ngắn chạy xe ra sân bay không phải là cuộc khởi hành sắp tới của gia đình ông, mà là người bạn trẻ Việt Nam, người vài tuần nữa sẽ rời Sài Gòn tới Costa Mesa, California, để học báo chí tại Trường Orange Coast. Mills và vợ, bà Janet, đã mua tặng Ẩn chiếc va li mới và dặn đi dặn lại rằng khí hậu California không nóng ẩm như Sài Gòn. Mills mong Ẩn tiếp tục tiến độ học tiếng Anh như lâu nay và đã dàn xếp để một đồng nghiệp là Corad Dillow thay Janet làm gia sư cho Ẩn. Trước khi nói lời tạm biệt, Mills đưa cho Ẩn danh sách một số bạn bè và gia đình mà Ẩn có thể liên lạc khi đến California.

Mills gặp Ẩn lần đầu vào năm 1956 khi đang là nhân viên của Bộ Ngoại giao, làm việc trong lĩnh vực thủy điện, hoặc ít nhất thì đây là vỏ bọc của ông ta. Là bạn thân của điệp viên CIA huyền thoại Lou Conein, Brandes thực ra làm công tác bí mật nhằm giúp chính quyền Ngô Đình Diệm đánh bại lực lượng Việt Minh Cộng sản. Conein và Brandes từng hoạt động chung một tổ trong Cơ quan Tình báo Chiến lược (OSS) trong Thế chiến II. Năm 1954, Conein chuyển tới hoạt động trong chiến dịch bí mật của Edward Lansdale ở Bắc Việt, tổ chức một nhóm bán quân sự chống Cộng để cài lại nhằm phá hoại các cơ sở công nghiệp và giám sát một chiến dịch gián điệp. Cũng chính Conein đã điều Brandes tới Việt Nam để tham gia chiến dịch chống Cộng.

Khi nghe tôi kể về các hoạt động ngầm của Brandes, Ẩn thú nhận “tôi chưa từng biết điều đó.” “Tôi biết Mills Brandes là một người chống Cộng hăng hái, nhưng tôi không rõ mối quan hệ giữa ông ấy và Lou Conein. Tôi cũng biết rất rõ Conein. Chúng tôi thường cùng nhau uống rượu Black & White, đặc biệt là với Bob Shaplen, và tôi biết ông ta gắn bó mật thiết với CIA, nhưng chuyện này thì tôi không hề biết,” Ẩn nói với một chất giọng tôn trọng chuyên nghiệp đối với nhiệm vụ bí mật của bạn ông.

Ẩn luôn coi gia đình Brandes là “gia đình Mỹ đầu tiên” của ông. Mills và Janet thường tạo mọi điều kiện để Ẩn tham gia vào các hoạt động của họ. Sau khi dỗ các con nhỏ đi ngủ, Janet có thể ngồi hàng giờ để luyện tiếng Anh cho Ẩn, người rất gắn bó với ba đứa nhỏ Jud, Julanne và Mark. “Lần đầu tiên trong đời, tôi được những đứa trẻ người Mỹ này chỉ cho cách chơi với trẻ em Mỹ nói chung; làm sao để thân thiết với chúng,” Ẩn nhớ lại, đến lượt mình, chính ông cũng dẫn Mills và Janet về nhà để giới thiệu với cha mẹ và các anh chị em. Năm mươi năm sau, Julanne Brandes Owings nói với tôi, “Cho đến hôm nay, tôi vẫn nhớ rõ rằng ông ấy là một người bạn đặc biệt của gia đình; hiếm có người nào mà tôi biết từ thời ấu thơ lại đối xử tử tế và đầy tôn trọng với tôi như ông Ẩn.”

Chuyến du lịch suýt chết của gia đình Mills và Janet

Có lần Mills đề nghị Ẩn làm hướng dẫn và thông dịch cho gia đình trong một chuyến du lịch khắp miền Nam Việt Nam. Những chặng đường dài trên chiếc Land Rover cùng cả gia đình đã giúp Ẩn thực hành tiếng Anh rất tốt, trong đó có hai câu chuyện đáng nhớ mà năm mươi năm sau cả Ẩn lẫn những đứa trẻ ngày ấy đã kể lại với tôi cùng một nội dung.

Câu chuyện thứ nhất xảy ra trên chặng đường từ Ban Mê Thuột tới Nha Trang, ở đoạn Quốc lộ 1 chạy dọc bờ biển. “Chúng tôi trông thấy một ngọn núi và trên đỉnh cao vời vợi có khối đá hình mẹ bồng con,”ông Ẩn hồi tưởng.“Tôi kể với mọi người truyền thuyết về hình ảnh ấy, và Janet Brandes bảo tôi viết lại để bà có thể giúp chỉnh sửa câu chữ. Truyện kể về hai anh em trẻ tuổi, một gái và một trai. Vào ngày nọ, hai anh em có chuyện xích mích dẫn đến đánh nhau. Người anh nổi nóng cầm dao chém vào đầu em gái, làm cô em bị thương. Nhìn thấy máu chảy đầm đìa, người anh sợ quá bỏ nhà trốn biệt tăm. Cả gia đình tỏa đi tìm kiếm nhưng chẳng thấy người anh nơi đâu. Chàng đã tới ngôi làng khác sinh sống, không bao giờ trở về. Rồi chàng làm nghề đánh cá. Một ngày nọ, chàng phải lòng một cô gái liền cưới làm vợ mà không hề biết rằng đó chính là em gái mình. Họ có với nhau một đứa con trai.

Cuộc sống gia đình thật đầm ấm. Thế rồi có lần người vợ nhờ chồng chải đầu. Người chồng bỗng phát hiện trên đầu nàng có vết sẹo liền hỏi nguyên do. Khi nghe kể lại, người chồng biết rằng người vợ chính là em gái mình và hai người đã phạm tội loạn luân. Lương tâm giày vò, anh ta liền bỏ nhà đi biệt xứ. Người vợ ngày đêm nhung nhớ, đã bồng con lên ngọn núi gần nhà trông ngóng người chồng trở về, vì chồng nàng thường ra khơi sớm và trở về nhà rất muộn. Người vợ chờ đợi mỏi mòn. Mỗi ngày nàng lại leo lên cao hơn. Một ngày nọ, nàng chết và Thượng đế biến nàng cùng đứa con thành đá, đấy là tượng đá người mẹ và đứa con ngóng chồng, đợi cha trở về. Cho đến hôm nay, ngư dân vùng Quy Nhơn ở miền Trung Việt Nam vẫn còn ngước nhìn lên tượng người mẹ bồng con và khấn – ‘Xin Bà phù hộ cho gió tây nam thổi mạnh lên... Đức lang quân của Bà giờ sống ở Quy Nhơn và chúng con đang đi theo Ngài, cầu xin Bà nổi gió tây nam để thuyền ra khơi nhanh.’”

Ẩn khẽ hát lên những lời khấn đó bằng tiếng Việt và sau đó viết ra giấy bằng tiếng mẹ đẻ. Khi tôi kể lại chuyện này với gia đình Brandes, Jud đã lục ra một tấm ảnh trong bộ sưu tập của gia đình rồi chỉ cho tôi hình ảnh khối đá.

Chuyến đi đáng nhớ ấy còn có một câu chuyện không thể quên nữa; đấy là cái hôm Mills quẹo nhầm vào một con đường hẻo lánh và đột nhiên lính Việt Minh bao vây chiếc xe. Lũ trẻ sợ khiếp vía. Đầu tiên Ẩn trấn an mọi người, bảo cả gia đình hãy bình tĩnh trong khi ông đi nói chuyện với những người kia. Không ai dám nhúc nhích hoặc nói điều gì. Sau một lát chỉ chỉ trỏ trỏ, Ẩn trở lại và chỉ cho Mills cách quay lại đường lớn. Không biết Ẩn đã nói gì nhưng có vẻ như lời ông rất hiệu nghiệm bởi toán du kích nhanh chóng biến vào khu rừng ven đường.

Tối hôm đó, Mills tập hợp cả gia đình và dặn mọi người không bao giờ quên ơn cứu mạng của Ẩn. “Nếu không có chú ấy thì tất cả chúng ta đã bị giết”, nhiều năm về sau, những người con vẫn nhớ như in lời cha trong ngày hôm ấy. Cho tới tận hôm nay, các thành viên trong gia đình Brandes vẫn kể về câu chuyện với lòng tri ân sâu sắc về những gì mà theo họ là nghĩa cử của tình bằng hữu và lòng dũng cảm, một món nợ không thể nào đền đáp được. Khi tôi hỏi Jul và Jud về phản ứng của cha họ khi nghe tin Ẩn là một điệp viên Cộng sản, hai người cho biết, “Bố bảo rằng ông Ẩn là một người bạn của gia đình, bố không phán xét ông ấy. Chúng tôi yêu Việt Nam, yêu ông Ẩn, chúng tôi hiểu tinh thần dân tộc, người dân Việt Nam là bạn bè của chúng tôi. Ông Ẩn đã làm điều phải làm, cho đất nước, cho gia đình ông ấy. Ông ấy đã vun đắp tình bạn cho tương lai. Ông ấy đã tham gia trò chơi một cách thông minh nhất.”

Ẩn kể với tôi rằng, khi nói chuyện với toán Việt Minh, ông bảo mình là hướng dẫn viên du lịch cho gia đình trẻ người Mỹ này và cả nhóm đang bị lạc đường do không rành nơi đó. “Tôi bảo, họ chẳng làm hại ai cả và Mills cũng không làm việc cho chính phủ.” Tôi ngờ rằng Ẩn không chỉ nói có vậy nên tiếp tục khơi gợi để ông kể tiếp.

Tuy nhiên, “có những chuyện dù năm mươi năm đã trôi qua tôi vẫn không thể nói ra được,” ông nói bằng một chất giọng như gợi ý rằng chúng tôi nên chuyển sang đề tài khác.

Tình bạn giữa Phạm Xuân Ẩn với Gia đình Mỹ

Cầm phong thư trong tay, Ẩn nhớ lại cái ngày ông trông thấy Mills Brandes đạp chiếc xích lô leo lên một trong những con dốc cao nhất Sài Gòn trong khi người đàn ông gầy gò hành nghề đạp xích lô thì lại ngồi ở ghế hành khách. Ẩn chưa bao giờ thấy một gã Tây đạp xích lô, nhưng còn đáng ngạc nhiên hơn đó là cái ông xích lô thực sự thì lại ngồi như là hành khách.

Khi họ vừa lên đến đỉnh dốc, ngay Nhà thương Grall, hai người lại đổi vị trí cho nhau, người đạp xích lô chở Mills về nhà ở số 213B Công Lý. Mills sau này giải thích rằng hôm đó Sài Gòn nắng nóng bất thường và do ông ta quá bự con nên cảm thấy ái ngại cho bác xích lô ốm yếu. Ẩn không bao giờ quên bài học đó: “Ông biết đấy, đây là một câu chuyện rất nhân văn ăn sâu vào đầu tôi cho tới lúc chết. Lần đầu tiên người Mỹ cho tôi thấy họ giàu tình thương và hào hiệp đến nhường nào.”

Ẩn luôn mong nhận được tin tức từ Mills, nhưng lá thư này mang đến cho ông những tin tức gây xáo động. “Hy vọng anh không phiền lòng về việc chúng tôi tham khảo ý kiến anh những vấn đề liên quan đến quan hệ Việt – Mỹ,” Mills Brandes viết trong thư. “Chúng tôi làm thế bởi chúng tôi rất quan tâm về mối quan hệ này và bởi chúng tôi biết rằng anh sẽ đưa ra ý kiến thẳng thắn nhất của mình. Sau tất cả, anh chính là người đã dạy cho tôi và gia đình tôi phần lớn những gì mà chúng tôi biết về đất nước của anh.”

Gửi kèm thư là bốn bài báo, bao gồm bài viết về “sự kiện chính quyền Việt Nam phát hiện nhiều ký giả Cộng sản ở miền Nam.” Mills cảnh báo Ẩn rằng những vụ bắt giữ này

“đã chỉ ra mối đe dọa từ Cộng sản cũng như cho thấy nhận thức của một số người về sự tồn tại của mối đe dọa đó. Chúng tôi không có những cán bộ tuyên truyền làm việc ‘toàn thời gian’ tại đất nước này, mà chỉ có ‘một nền báo chí tự do’ mà anh sắp sửa nghiên cứu. Nhiều lúc tôi cho rằng đất nước tôi đang đánh nhau với hai tay bị trói chặt ở sau lưng. Hy vọng rằng việc chúng tôi không thuận với chương trình tuyên truyền được Chính phủ Mỹ tài trợ để đối đầu với Cộng sản sẽ không bị bạn bè diễn dịch rằng đó là do chúng tôi hèn nhát.

“Tôi phải thừa nhận rằng ở đất nước của anh và các nước khác tại Viễn Đông, tôi đã gặp nhiều người hiểu biết về chiến lược và chiến thuật của Cộng sản hơn so với những người tại Mỹ. Tôi chỉ là một cá nhân và không phải là một hình mẫu hợp lý cho trong nước lẫn nước ngoài – có lẽ là không phải. Nếu, một ngày nào đó, nhân dân tôi được phép hiểu đúng bản chất chủ nghĩa Cộng sản trên thế giới – một thế lực quỷ quyệt đang âm mưu thống trị thế giới bằng sự kiểm soát của một vài cá nhân điên khùng – thì khi đó chủ nghĩa Cộng sản sẽ bị diệt vong. Tôi chưa nghĩ rằng nhân dân chúng tôi đã nhận thấy toàn bộ hình hài mối đe dọa này. Thêm vào đó, tôi không tin chúng tôi đã biết rõ rằng vũ khí có sức mạnh lớn nhất để chúng tôi tiêu diệt Cộng sản, đó là sự thật, lòng chân thành và phẩm hạnh cá nhân.”

Từ lá thư này, Ẩn nhận ra hai điều quan trọng. Thứ nhất, ở trong nước, chính quyền Diệm đã thực hiện một cuộc thanh trừng nhằm vào những người cảm tình với VC, và thứ hai, vỏ bọc của ông vẫn chưa hề hấn gì. Sứ mệnh của Ẩn tại Mỹ là học tất cả những gì có thể về người Mỹ và văn hóa của họ để sau đó trở về Việt Nam làm việc dưới vỏ bọc là một nhà báo. Nhiều thành viên Bộ Chính trị tại Hà Nội, vốn đã theo dõi sát các nguồn lực từ Mỹ được tuồn vào Việt Nam kể từ sau thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ, đã đoan chắc rằng sẽ có một ngày giữa Mỹ và Việt Nam nổ ra chiến tranh. Trước khi ra đi, Ẩn được chỉ đạo là phải tìm mọi cách để bản thân có một cách nghĩ, cách viết như người Mỹ. “Nếu không làm điều đó, cậu sẽ không thành công được,”thượng cấp Mười Hương cảnh báo. “Khi tới đó, cậu phải nghiên cứu văn hóa Mỹ một cách bài bản và phải tìm hiểu người Mỹ một cách toàn diện. Chỉ có làm được điều đó thì cậu mới hoàn thành được nhiệm vụ.”

Trong khi làm nhiệm vụ, Ẩn đã dần dần cảm phục nhân dân Mỹ, giá trị và văn hóa của họ. Tình cảm này đã nảy mầm từ Việt Nam, trong những dịp ông tương tác với những người Mỹ như gia đình Brandes hoặc Thượng sĩ Frank C. Long cùng ba người con của ông này, Amanda, Peter và Kathy. Ông khâm phục lòng trắc ẩn, tính độc lập và cả những ý định tốt đẹp của họ. Bất cứ nơi đâu, ông đều tranh thủ giải thích về đất nước Việt Nam cũng như bề dày lịch sử chống ngoại xâm cho những người bạn Mỹ.

“Tôi luôn hy vọng nước Mỹ sẽ mở to mắt và giúp đỡ một đất nước Việt Nam thực thụ,” Ẩn nói với Henry Kamm.

"Họ dạy tôi phải biết giúp kẻ hèn yếu"

Ẩn trở thành đảng viên Cộng sản vào tháng 2 năm 1953 trong một lễ kết nạp ở tỉnh cực nam Cà Mau, cách Sài Gòn 350 cây số. Cán bộ cấp cao nhất của Việt Minh hoạt động ở miền Nam, ông Lê Đức Thọ, chủ trì lễ kết nạp và sau đó đã kéo Ẩn ra nói chuyện riêng. Ông Thọ tham gia nhóm cách mạng của Hồ Chí Minh từ rất sớm và là một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông từng bị người Pháp cầm tù mười năm, trong đó có khoảng thời gian lao động khổ sai tại Poulo Condore, về sau gọi là Côn Sơn, một hòn đảo với hệ thống nhà tù khét tiếng khắc nghiệt. Trong thời gian ngồi tù ở Nam Định, ông đã làm bài thơ Xà lim oán, trong đó có những câu, “Vì đâu phải đọa đầy khổ cực\Giận vì quân đế quốc dã man\Bao năm dày xéo giang san\Ngàn trùng áp bức muôn vàn đắng cay.”

Ông Lê Đức Thọ và H.Kissinger sau khi Hiệp định Paris được kí tắt 

Gần ba mươi năm sau, Lê Đức Thọ đã khiến Henry Kissinger hụt hơi trong cuộc đàm phán chấm dứt chiến tranh. Hai người này sau đó đã được trao chung một giải Nobel Hòa bình, nhưng ông Thọ từ chối nhận với lý do rằng nền hòa bình thực sự vẫn chưa trở thành hiện thực do sự trở mặt của người Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Trong cuộc gặp bí mật đầu tiên giữa họ, diễn ra tại Paris vào ngày 21 tháng 2 năm 1970, ông Thọ đã thách thức Kissinger bằng chính giọng điệu giận dữ mà ông đã nói với đảng viên mới của mình trong đêm hôm nào ở rừng U Minh:

“Nếu thế hệ chúng tôi chưa giành được thắng lợi, thì các thế hệ con cháu sẽ tiếp tục. Chúng tôi thà hy sinh tất cả chứ không trở lại kiếp nô lệ một lần nữa. Đây là ý chí sắt thép của chúng tôi. Chúng tôi đã chiến đấu suốt hai mươi lăm năm, chống người Pháp và chống các ông. Các ông muốn dùng bom đạn để hủy diệt tinh thần của chúng tôi. Nhưng những thứ đó không thể khuất phục chúng tôi... Ông dọa chúng tôi. Tổng thống Nixon cũng dọa chúng tôi. Nhưng các ông chắc đã đọc lịch sử của đất nước chúng tôi rồi. Chúng tôi đánh Pháp trong chín năm mà chẳng biết gì về quân sự. Và chúng tôi đã thắng... Đây không phải là lời thách thức. Tôi chỉ muốn nói thẳng. Chúng tôi là một dân tộc nhỏ bé. Chúng tôi chẳng thể thách thức ai. Chúng tôi đã bị đô hộ trong nhiều năm... Nhưng tôi hoàn toàn tin tưởng rằng chúng tôi sẽ chiến thắng.”

 “Anh Sáu Búa,” biệt danh mà các đồng chí đặt cho Lê Đức Thọ, cảnh báo Ẩn rằng khi cuộc chiến chống Pháp kết thúc, Mỹ sẽ không để cho người Việt Nam tự quyết định tương lai của mình. Những tên đế quốc mới sẽ thay thế thực dân Pháp, và cuộc chiến sắp tới sẽ lâu dài và tàn khốc. Ẩn được chỉ thị phải chuẩn bị sẵn sàng cho bất cứ nhiệm vụ nào mà đảng giao phó trong công cuộc bảo vệ đất nước.

Một thập kỷ trước đó, Ẩn không thể tưởng tượng ra cảnh có ngày mình sẽ trở thành đảng viên Đảng Cộng sản. Sau khi Pháp đầu hàng Hitler, Nhật đã nhảy vào Việt Nam. Ẩn lúc bấy giờ là một thiếu niên sống ở thị trấn cảng miền nam Rạch Giá, đã tận mắt chứng kiến cảnh lính Nhật hành xử độc ác với tù binh Pháp bằng cách xích nhiều người lại rồi vừa đánh đập vừa giải đi. “Tôi không bao giờ thích người Pháp vì những tên thực dân Pháp đã đối xử tàn tệ với trẻ em Việt Nam chúng tôi. Nhưng sự tàn bạo của quân Nhật cũng khiến tôi ghê sợ. Đám người Pháp kia đang chết khát. Tôi liền chạy tới chỗ cha, và ông bảo, ‘Con nấu ít nước mang tới cho họ đi.’ Khi tôi mang nước tới, có tên lính Nhật thấy vậy liền tát túi bụi vào mặt người tù Pháp.”

Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử đầu tiên được thả xuống Hiroshima; ba ngày sau, quả bom thứ hai được ném xuống Nagasaki. Nhật Bản lập tức đầu hàng, Thế chiến II kết thúc. Ngay sau đó, quân Việt Minh của Hồ Chí Minh tiến vào Hà Nội và kiểm soát các cơ quan chính phủ, tiến hành cuộc Cách mạng tháng 8. Ngày 2 tháng 9, trước đám đông 400.000 người ở Quảng trường Ba Đình ở Hà Nội, ông Hồ công bố bản tuyên ngôn độc lập lịch sử của Việt Nam, nhắc lại những ngôn từ nổi tiếng của Thomas Jefferson: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”

 Ông Hồ nói với quốc dân đồng bào rằng “Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.”Giáo sư David Marr giải thích rằng ông Hồ có ý đối chiếu bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ cũng như Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789 với thực tiễn tám mươi năm đô hộ của thực dân Pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Ba Đình, Hà Nội, ngày 2/9/1945

Sau khi đọc vài câu trong bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, ông Hồ dừng lại và nhìn xuống đám đông ủng hộ rồi hỏi, “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?”. Đám đông hô vang, “Rõ!”. Ông Võ Nguyên Giáp sau này viết, “Bác cùng với cả biển người đã hòa làm một.” Về sau ông Ẩn nói với tôi rằng “không một lãnh đạo nào ở miền Nam, dù là ông Diệm, ông Thiệu hay bất cứ ai, lại có mối quan hệ với công chúng tốt như vậy. Chúng tôi luôn khai thác sự thật cơ bản này.”

Cuối diễn văn, ông Hồ kêu gọi phe Đồng minh ủng hộ nền độc lập của Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”

Khi ông Hồ kết thúc, Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Nội vụ của chính phủ mới, đã nói với đám đông rằng “Mỹ... là một quốc gia dân chủ không có tham vọng xâm chiếm lãnh thổ. Thế mà họ đã gánh trọng trách lớn nhất trong việc đánh bại kẻ thù phát xít Nhật của chúng ta. Vì thế chúng ta coi nước Mỹ là bạn tốt.”Một vài người trong đám đông giương cao biểu ngữ, “Việt Nam hoan nghênh Truman.”

Sau Thế chiến II, Mỹ nổi lên như một cường quốc vượt trội. Việt Nam nhanh chóng trở thành một con tốt trong cuộc chiến tranh lạnh mới. Giới hoạch định chính sách đã bỏ qua chi tiết Hồ Chí Minh nhận bản dịch Tuyên ngôn Độc lập từ Archimedes Patti của Cơ quan Tình báo Chiến lược (OSS); rằng ông đã giúp cứu các phi công Mỹ và cung cấp tin tức tình báo về các chiến dịch của Nhật, các hoạt động đã giúp ông có bí số điệp viên 19 trong OSS, với mật danh là Lucius; và rằng các tay súng Việt Minh cũng đã tham gia các đợt huấn luyện và tập trận của nhóm OSS Con Nai dọc biên giới Trung Quốc.

Điều đó không quan trọng. Giới hoạch định chính sách cho rằng mỗi quốc gia ở Đông Nam Á rơi vào tay Cộng sản sẽ gây ra hậu quả thảm họa cho các lợi ích địa chính trị của Mỹ. Cuối năm 1945, ông Hồ có nỗ lực cuối cùng để tìm kiếm sự giúp đỡ của Mỹ, bằng cách viết thư cho Tổng thống Harry S. Truman và Ngoại trưởng James Byrnes trong đó nêu rõ rằng sự kiện Philippines giành độc lập có thể được coi là một hình mẫu: “Với niềm tin vững chắc, chúng tôi đề nghị nước Mỹ trong vai trò là người bảo vệ và là nhà quán quân của công lý trên thế giới hãy thực hiện bước đi quyết định là ủng hộ nền độc lập của chúng tôi. Điều mà chúng tôi đề nghị này chính là điều đã được trao cho Philippines. Tương tự Philippines, mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Mỹ.”

Điều đó đã không thành hiện thực.

Ẩn cùng một thế hệ người Việt Nam tham gia cuộc cách mạng để chống lại nỗ lực sau chót và vô vọng của người Pháp nhằm giành lại quyền lực thực dân. Ẩn nhớ lại lúc mình đang ở Cần Thơ thì nghe tin ông Hồ đọc tuyên ngôn. “Tôi rất phấn chấn. Tôi muốn tham gia chiến đấu vì đất nước, để đánh bại quân Pháp. Tôi chỉ là một trong số rất nhiều người như thế và đó là phản ứng tự nhiên.” Lúc bấy giờ, lũ trẻ con như Ẩn thường phải dự lễ chào cờ trong trường, với lá cờ nước Pháp được thượng lên trước, sau đó mới đến cờ Việt Nam và các học sinh phải hát bài “Maréchal, nous voilà,” bài hát phổ biến nhất của chính phủ Vichy có nội dung ca ngợi Thống chế Henri-Philippe Pétain. Dưới chế độ thực dân Pháp, người Việt Nam bị coi là đồ nhà quê (nhaques).

Phạm Xuân Ẩn thời thanh niên 

Là một chàng trai mới lớn, Ẩn không biết gì về Marx hoặc Lenin, nhưng cậu luôn mơ ước đất nước được độc lập và sự bất công mà thực dân đã áp đặt hàng chục năm qua chấm dứt. Sinh năm 1927 tại làng Bình Trước ở tỉnh miền nam Đồng Nai, Ẩn thường cùng cha đi khắp nơi; cha ông là một viên chức đạc điền thường đưa con trai đi tới những vùng xa xôi hẻo lánh nhất của miền Nam Việt Nam. Thấy con không chuyên tâm học tập, người cha đã gửi Ẩn về sống với bà con tại Huế để cho cậu bé hiểu rõ thân phận của người giàu có và kẻ nghèo hèn. Ẩn sống giữa những người nghèo khổ tại Huế, người ta nghèo đến nỗi phải dùng mỡ chuột để thắp đèn vì không có dầu. Cậu cũng chứng kiến cảnh địa chủ Việt Nam xử tệ với các tá điền, và qua đó cậu trở nên cảm thông với những người bị tước đoạt. “Đó là lý do tôi rất tôn trọng người Mỹ. Họ dạy tôi phải biết giúp kẻ hèn yếu,” Ẩn nói.

Phạm Xuân Ẩn học làm điệp viên

Tháng 10 năm 1945, Ẩn rời trường trung học ở Cần Thơ và gia nhập lực lượng Việt Minh chuẩn bị vào rừng để đánh Pháp. Khi tàu chiến Pháp bắn phá Hải Phòng vào tháng 11 năm 1946, chiến tranh toàn diện đã nổ ra giữa Pháp và Việt Minh. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, ông Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”

 Nhưng rồi Ẩn đã không thể vác súng hay gậy để lao vào cuộc chiến này. Cậu buộc phải trở lại Sài Gòn vào năm 1947 để chăm sóc người cha đang bị bệnh lao rất nặng. Tại đây, cậu trở thành người tổ chức các cuộc biểu tình của sinh viên, học sinh nhằm phản đối người Pháp và sau này là người Mỹ. Ẩn còn nhớ rất rõ một ngày vào tháng 3 năm 1950, khi chiến hạm USS Richard B. Anderson thăm Sài Gòn, mang theo hàng tiếp tế giúp quân Pháp chống lại Việt Minh. Cậu là một trong những người tổ chức các cuộc xuống đường phản đối chiếc tàu Mỹ neo đậu tại cảng Sài Gòn.

Sự nghiệp lãnh đạo biểu tình của Ẩn nhanh chóng kết thúc khi cấp trên trực tiếp là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch nói với cậu rằng cách mạng có nhiệm vụ mới giao cho cậu. Bác sĩ Thạch, một phụ tá thân cận từ rất sớm của Hồ Chí Minh, bảo Ẩn không được tham gia bất cứ cuộc xuống đường nào để tránh bị bắt hoặc bị chú ý. Ẩn cảm thấy băn khoăn và thất vọng, trong lòng tự hỏi không biết cách mạng có nhiệm vụ gì mới cho mình. Ít lâu sau, Ẩn được triệu tập lên căn cứ Việt Minh tại Củ Chi ở phía bắc Sài Gòn và bác sĩ Thạch nói rằng cậu sẽ được tham gia lớp tình báo chiến lược đầu tiên của Việt Nam.

Phạm Xuân Ẩn (cầm biểu ngữ bên phải) trong đoàn sinh viên biểu tình

Ẩn không mấy thích thú cái nghề mà cậu coi là “chim mồi” này. Nhưng trên đã quyết rồi. “Cấp trên giao cho cậu nhiệm vụ này vì các đồng chí ấy hoàn toàn tin chắc rằng cậu sẽ làm tốt. Nhưng cậu cũng phải học hỏi nhiều.” “Tôi không còn lựa chọn nào khác,”Ẩn nói với tôi.“Đất nước giao cho tôi sứ mệnh mới. Không có gì phải thắc mắc cả. Đấy chính là lời giải thích cho công việc mới của tôi.”

Hà Nội cử hai điệp viên vào Sài Gòn để huấn luyện Ẩn những điều cơ bản của công việc tình báo, nhưng chính công việc mới thực sự giúp Ẩn hoàn thiện kỹ năng. Ban đầu, Ẩn làm nhân viên kế toán và thủ quỹ cho Công ty dầu mỏ Caltex nhưng sau đó được giao nhiệm vụ vào làm thanh tra cho hải quan Pháp, từ đây cậu chuyển các báo cáo về tình hình chuyển quân của Pháp cũng như việc Mỹ viện trợ cho Pháp. Cậu cũng tìm cách nắm bắt mọi thứ liên quan tới các nhân vật tai to mặt lớn của Pháp và Mỹ tại Việt Nam. “Tôi theo dõi và sau đó viết báo cáo, cũng không nhiều lắm,” Ẩn kể.

👉 Điệp viên hoàn hảo Kỳ 4: Tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn và những bài học đầu tiên

Trích X6 Điệp Viên Hoàn Hảo


Gửi bình luận
(0) Bình luận
HẠT GIỐNG TÂM HỒN
2019 Bản quyền thuộc về hatgiongtamhon.vn. Phát triển bởi ONECMS
Thứ 5, 11/08/2022